Huyền thoại Lê Minh Bằng – The Legendary Lê Minh Bằng (Duy Khiêm)

LMB 12

Ngược dòng thời gian và không gian để quay về thời điểm của năm 1966 ở Việt Nam, tức là cách đây đúng 40 năm, bỗng dưng trên các hệ thống đài phát thanh, truyền hình có một bài hát được rất nhiều khán thính giả ưa thích với những lời ca như:

Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài.
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền.
Vì đất nước đang còn ưu phiền.
Còn tiếng khóc đi vào đêm trường triền miên

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Quê hương non nước tôi ai gây hận thù tội tình
Nhà Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh bình?

Nhạc phẫm đầu tiên của nhóm Lê Minh Bằng, với ảnh Thanh Thúy

Nhạc phẫm đầu tiên của nhóm Lê Minh Bằng, với ảnh Thanh Thúy

Đó là bài “Đêm Nguyện Cầu” ký tên tác giả là Lê Minh Bằng, một cái tên xa lạ lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường âm nhạc ở miền nam Việt Nam. Ở phần trên của các dòng nhạc trong bản nhạc này có những lời giới thiệu như sau:

“Kính dâng tổ quốc mến yêu.
Chân thành ghi ơn những người đã và đang chiến đấu cho hòa bình Việt Nam.
Lê Minh Bằng, Quốc khánh 1966”

Bài hát này được ca sĩ Thanh Vũ trình bày lần đầu tiên trên đài phát thanh. Thanh Vũ là một ca sĩ khá đẹp trai, cao ráo, thường hát chung với Nhật Trường, Duy Khánh và Hùng Cường trên các sân khấu đại nhạc hội. Ca sĩ Thanh Vũ cũng hay song ca với Hoàng Oanh và Thanh Tuyền khi thâu thanh vào dĩa nhựa. Cũng chính bài hát “Đêm Nguyện Cầu” này đã đưa tên tuổi Chế Linh lên đài danh vọng khắp từ Bến Hải đến Cà Mau, như những tiếng rên siết, kêu than cho thân phận người dân trong thời chinh chiến đang mơ ước thanh bình. Bài hát này được tung ra vào đúng thời điểm chiến cuộc ở miền Nam Việt Nam đang leo thang với sự xâm nhập ồ ạt của bộ đội miền Bắc và những cán bộ tập kết từ năm 1954 đang hồi kết, gây chiến tranh đau thương tang tóc khắp nơi. Quân đội đồng minh Hoa Kỳ cũng đang đổ bộ vào miền Nam để tiếp tay với chánh quyền VNCH nhằm ngăn chận hiểm họa cộng sản và bảo vệ miền Nam được dân chủ, tự do lâu dài. Cho nên khán giả khắp nơi đã mau chóng đón nhận bài hát này, như những lời tâm sự rất xác thực để nói lên những ước vọng của dân chúng khắp nơi. (Ở hải ngoại sau này trong Video Asia 15: Tình Ca Anh Bằng, ca sĩ Elvis Phương đã hát bài Đêm Nguyện Cầu này). Sau đó là một loạt những bài hát khác của nhóm Lê Minh Bằng ra đời và được rất nhiều người ưa thích như Hai Mùa Mưa, Lẻ Bóng, Sầu Lẻ Bóng, Chuyện Hai Chúng Mình, Đôi Bóng, Tình Đời..v.v. Bài thơ “Cần Thiết” của thi sĩ Nguyên Sa được nhóm Lê Minh Bằng phổ nhạc và đặt tên là “Nếu Vắng Anh” khiến cho giới trẻ rất yêu thích vì có những câu thơ rất lãng mạn như:

Không có anh …. lấy ai đưa em đi học về ?
Lấy ai viết thư ….cho em mang vào lớp học ?
Ai lau nước mắt … khi em ngồi khóc ?
Ai đưa em đi chơi …trong chiều mưa …?

Vào lúc đó chỉ có một số rất ít người có liên hệ với sân khấu ca nhạc và giới ký giả kịch trường biết được Lê Minh Bằng là bút hiệu chung của ba nhạc sĩ nổi tiếng thời bấy giờ là Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng. Nhưng lý do vì sao mà họ hợp tác chung với nhau, ai là người viết nhạc, ai là người đặt lời, ai là người đặt tựa thì ít ai biết và họ đã kiếm được bao nhiêu tiền, chia chác ra sao, thành công hay thất bại thì cho tới nay vẫn còn là “huyền thoại” tức là vẫn còn là điều bí ẩn chưa được giải đáp một cách rõ ràng, thỏa đáng.

Theo tiết lộ của nhạc sĩ Lê Dinh trên tờ Nghệ Thuật xuất bản ở Canada, lúc đầu khi thành lập Nhóm Lê Minh Bằng (1966) thì ba người nhạc sĩ này đã họp lại và bàn bạc với nhau về đường lối sáng tác
những bản nhạc của nhóm mình. Đó là làm sao mà sáng tác ra loại nhạc hợp với mọi tầng lớp dân chúng từ thành thị tới thôn quê, để ai cũng có thể thưởng thức được. Như vậy những bài hát này phải có lời ca trong sáng, giản dị, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Giai điệu và tiết tấu cũng nên đơn giản để dễ tập đàn, dễ tập hát (như điệu boléro, rumba slow, slow rock, boston…chẳng hạn). Nói tóm lại là nhạc và lời phải thật dễ thương, âm điệu uyển chuyển khiến người nào nghe một lần là còn nhớ thoang thoảng trong lòng. Vì là bước đầu thử nghiệm, nên cả nhóm không biết là những bài hát này sẽ thành công hay không, sẽ được nhiều người ưa thích hay chê bai? Để tránh trường hợp thất bại xảy ra có ảnh hưởng đến tên tuổi của cả ba nhạc sĩ này, thì cách tốt nhứt là chọn ra vài cái biệt hiệu khác nhau để ký tên lên các bài hát mới thử nghiệm này. Nhưng kết quả thật quá bất ngờ, đến nổi cả ba người nhạc sĩ này không tin rằng đó là sự thật. Vì sau khi những bài hát của nhóm tung ra, số lượng các bản nhạc in (music sheets) bán được khắp nơi đã tăng nhanh vùn vụt (sẽ kể thêm ở đoạn sau) và nhóm Lê Minh Bằng đã thành công vượt bực để trở thành “huyền thoại” sau này.

Trong nhóm Lê Minh Bằng này, người lớn tuổi nhất là nhạc sĩ Anh Bằng. Tên thật của ông là Trần An Bường và sinh năm 1925 tại thị trấn Điền Hộ thuộc tỉnh Ninh Bình gần ranh giới tỉnh Thanh Hóa. (cách Hà Nội khoảng 100 cây số về phía nam). Theo học Trung học ở Hà Nội trước khi di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở Sài Gòn cho đến năm 1975.

Kế đó là nhạc sĩ Minh Kỳ sinh năm 1930 tại Huế. Ông thuộc dòng dõi hoàng tộc và tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ, có vai vế ngang hàng với vua Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) và phục vụ trong ngành cảnh sát VNCH với cấp bực Đại Úy vào năm 1975.

Trẻ nhất trong nhóm là nhạc sĩ Lê Dinh (tên thật là Lê Văn Dinh) sanh ngày 8 tháng 9 năm 1934 tại làng Vĩnh Hựu thuộc tỉnh Gò Công. Ông ghi tên học hàm thụ âm nhạc với trường Ecole Universelle de Paris khi còn học Trung học ở Gò Công. Năm 22 tuổi, ông sáng tác bài hát đầu tiên là “Làng Anh, Làng Em”. Ông học trường Cao Đẳng Vô Tuyến Điện Sài Gòn (1953-1955), dạy học (1955-1957) và làm công chức cho đài phát thanh Sài Gòn từ năm 1958 cho đến tháng Tư năm 1975 (Chức vụ là Chủ Sự Phòng Sản Xuất rồi Chủ Sự Phòng Điều Hợp).

Trước khi thành lập nhóm Lê Minh Bằng thì mỗi nhạc sĩ cũng đã tự mình tạo nên tên tuổi trong làng âm nhạc thời đó với số lượng và chất lượng của những tác phẩm nổi tiếng như Nỗi Lòng Ngưòi Đi, Nếu Vắng Anh, Tango Dĩ Vãng, Hẹn Anh Đêm Nay, Hận Tình, Còn Nhớ Hay Không…(Anh Bằng), Biệt Kinh Kỳ, Lá Vàng Rơi, Năm Ngọn Núi Ngũ Hành, Thương Về Miền Trung, Nhớ Nha Trang, Thương Về Miền Đất Lạnh…(Minh Kỳ), Tấm Ảnh Ngày Xưa, Cánh Thiệp Hồng, Nỗi Buồn Châu Pha, Chiều Lên Bản Thượng, Xác Pháo Nhà Ai, Ga Chiều …(Lê Dinh).

Trong công việc hùn hạp, làm ăn với nhau, người Việt mình kỵ nhất là sự hợp tác giữa ba người. Nhưng nhóm Lê Minh Bằng không tin dị đoan, nên quyết tâm cộng tác với nhau như một công ty đàng hoàng. Cũng có thể gọi là huyền thoại vì đây là sự kết hợp khá lạ lùng giữa ba người nhạc sĩ của ba miền đất nước là Nam Trung Bắc lại với nhau. Ngoài việc sáng tác nhạc thì họ còn làm việc ở cả ba lãnh vực khác nhau (kinh doanh, công chức, cảnh sát).

Những hoạt động chính yếu của Nhóm Lê Minh Bằng:

(1)-Mở lớp dạy nhạc có tên là “Lớp Nhạc Lê Minh Bằng” ở tại số 102/8 đường Hai Bà Trưng, Tân Định, Sài Gòn. Cả ba nhạc sĩ này thay phiên nhau giảng dạy về lý thuyết (nhạc lý, ký âm pháp) và thực hành (luyện giọng, xướng âm). Thế nào là lên tông, xuống tông, thăng, giáng, nhịp đôi, nhịp ba, tại sao bài hát này là âm giai trưởng, âm giai thứ? Giờ lý thuyết của thầy Minh Kỳ rất là nghiêm trang, kỷ luật. Học viên không được đùa giỡn với nhau mà phải chăm chú lắng nghe phần lý thuyết khô khan này. Nhưng đến giờ của thầy Anh Bằng và Lê Dinh thì lớp học rất vui, khi các thầy cầm đàn guitar đệm những bài ca cho học viên thực tập. Có khoảng chừng một trăm học viên nam nữ theo học và sau này đã có những ca sĩ nổi tiếng như Kim Loan, Giáng Thu, Mạnh Quỳnh (ngày xưa, không phải MQ ở hải ngoại sau này), Hải Lý, Trang Mỹ Dung, Nhật Thiên Lan, Thu Thủy …có rất nhiều học viên đã bỏ cuộc giữa đường, tìm nghề khác thích hợp hơn.

(2)-Thành lập ban nhạc mang tên là Sóng Mới chuyên trình diễn trên Đài Phát Thanh Sài Gòn (số 3 đường Phan Đình Phùng).

(3)-Cố vấn cho ông Nguyễn Tất Oanh, giám đốc hãng dĩa hát Asia và nhà xuất bản Sóng Nhạc ở số 37 đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn trong việc lựa chọn bài hát và ca sĩ để thu thanh vào dĩa nhựa và ấn hành các bản nhạc rời để tung ra thị trường.

(4)-Phụ trách trong việc tổ chức Chương Trình Tuyển Lựa Ca Sĩ được tổ chức hàng tuần ở rạp hát Quốc Thanh, do Đài Phát Thanh Sài Gòn thực hiện và được trực tiếp truyền thanh trên toàn quốc vào mỗi sáng Chủ Nhựt. Cuộc thi này rất hào hứng từ hàng chục năm rồi và đã lựa chọn được những ca sĩ tên tuổi thắng giải như Tùng Lâm, Duy Khánh (Tăng Hồng), Hùng Cường, Vân Hùng, Hoàng Yến, Bích Thủy… Đầu tiên là thí sinh trải qua phần phúc khảo, ba tháng sau vào phần bán kết và sau đó là phần chung kết. Ai hát được đúng nhịp và đừng bỏ cuộc nửa chừng của bài hát thì được ban giám khảo cho điểm trung bình là 13 điểm (theo thang điểm tối đa 20). Xen kẽ chương trình thi là các màn phụ diễn văn nghệ của các nghệ sĩ chuyên nghiệp của nhóm Lê Minh Bằng và vài nhóm khác.

(5)-Sáng tác, xuất bản và phổ biến các tác phẩm âm nhạc được ký tên với nhiều bút hiệu khác nhau như Lê Minh Bằng, Vũ Chương, Mạc Phong Linh, Mai Thiết Lĩnh, Mai Bích Dung, Dạ Ly Vũ, Dạ Cầm, Giang Minh Sơn, Mạnh Quỳnh, Hoàng Minh, Trần An Thanh, Tây Phố, Trúc Ly, Tôn Nữ Thụy Khương, Phương Trà, Huy Cường. v.v. ….Lợi tức thu được từ việc xuất bản và phát hành những bản nhạc sáng tác chung này là những món tiền khổng lồ thời bấy giờ. Đây chính là sự thành công to lớn nhứt của nhóm Lê Minh Bằng. Thành công ở địa hạt này cho đến nay vẫn còn là “huyền thoại” mà nếu không nghe chính những nhạc sĩ này kể ra rõ ràng, thì ít có ai tin rằng đó là sự thật.

Nhiệm vụ của từng thành viên trong nhóm Lê Minh Bằng:

Điều đầu tiên mà mọi người vẫn thường hay thắc mắc là trong một bản nhạc của nhóm Lê Minh Bằng thì ai là người viết nhạc và ai là người viết lời (tức là giai điệu và ca từ)? Theo sự tiết lộ của thi sĩ Nguyên Sa, là một người bạn rất thân với nhạc sĩ Anh Bằng, qua một bài viết trước kia thì hầu như nhạc sĩ Anh Bằng là người sáng tác tất cả những bài hát của nhóm Lê Minh Bằng. Ông sáng tác trọn vẹn cả nhạc lẫn lời của các bài ca. Hai nhạc sĩ kia là Lê Dinh và Minh Kỳ chỉ góp ý và sửa chữa chút ít mà thôi trước khi cho phổ biến. Sự phân công về nhiệm vụ của từng người cũng rất lạ lùng và rất thuận tiện tùy theo nghề nghiệp và sở thích của mỗi người.

Nhạc sĩ Anh Bằng là người trầm lặng, ít nói, không thích xuất hiện trên sân khấu hay trước đám đông. Ông thích dành nhiều thì giờ cho việc suy tư, yên lặng sáng tác theo tâm hồn nghệ sĩ của ông. Ông có một tâm hồn hết sức bén nhạy, dễ xúc cảm và cực kỳ lãng mạn (theo lời Nguyên Sa). Nên ông lãnh phần sáng tác các ca khúc cho nhóm. Còn nhạc sĩ Lê Dinh là công chức ở đài phát thanh Sài Gòn, nên ông có dịp theo dõi, liên lạc với các ban nhạc cộng tác với đài. Ông cũng góp ý và giúp cho việc phát thanh, phổ biến những sáng tác mới theo yêu cầu của khán giả khắp nơi liên lạc về đài. Riêng Minh Kỳ là Đại Úy cảnh sát nên lãnh nhiệm vụ giao dịch với các nhà in để thúc hối họ in ra kịp thời hạn những bản nhạc cần gởi đi các đại lý, cửa hàng văn hóa phẩm để bán.

Ở đây cũng cần phải nhắc lại về việc sản xuất và tiêu thụ âm nhạc cách đây hơn 40 năm rất là khác xa với thời đại hiện giờ. Ở nước ta thời đó, số lượng máy hát dĩa và dĩa nhựa còn khá mắc tiền, nên việc bán những dĩa nhựa còn rất hạn chế. Đa số dân chúng khắp nước từ thị thành tới thôn quê yêu thích tân nhạc đều nghe nhạc từ đài phát thanh và tìm mua những bản nhạc về tập hát, tập đàn. Những bản nhạc này (music sheet) được in trên giấy cứng xếp lại làm đôi, kích thước bề dài là 30 phân, bề ngang là 22 phân (tức là khổ giấy A3 hiện nay). Nhạc và lời được chép vào 2 trang trong (trang ruột), còn trang 1 tức là bìa bản nhạc thì được vẽ hình, hoặc chụp hình ca sĩ và viết tựa bài nhạc, tên tác giả. Trang bìa sau (tức trang 4) là để in mục lục các bài nhạc cùng tên tác giả hoặc cùng nhà xuất bản. Những nhà xuất bản nổi tiếng thời đó là Tinh Hoa Miền Nam, Sống Chung, Á Châu, Minh Phát, An Phú. Nếu ai không có tiền mua ấn bản của các nhạc phẩm thì họ mua tập vở học trò có kẻ hàng sẳn, kẻ thêm nét mực đậm lên các hàng là có được những khuôn nhạc để tìm mượn các bài hát và chép lại để dành cho việc tập đàn, tập hát.

Mỗi một bản nhạc như vậy được bán với giá 5 đồng VNCH. Có nhiều bài
hát của nhóm Lê Minh Bằng vừa xuất bản lần đầu 10,000 ấn bản đã bán sạch hết trong tuần lễ đầu tiên. Các đại lý liên lạc yêu cầu tái bản thật nhanh để tung ra thị trường. Thành công vượt bực trong những nhạc phẩm của nhóm Lê Minh Bằng là “Chuyện Tình Lan Và Điệp”. Đi đâu cũng nghe có người ca:

“Tôi kể người nghe chuyện tình Lan và Điệp, một chuyện tình cay đắng,
Lúc tuổi còn thơ, tôi vẫn thường mộng mơ đem viết thành bài ca ,
Thuở ấy Điệp vui như bướm trắng, say đắm bên Lan, Lan như bông hoa ngàn”

Trên đài phát thanh, khán giả yêu cầu phát thanh “Chuyện Tình Lan và Điệp” hàng ngày, hàng tuần, liên tiếp trong nhiều tháng trường. Khán giả yêu cầu “Lan & Điệp” mười lần thì các bài hát khác chỉ yêu cầu có một lần mà thôi. Các bản nhạc in ra không đủ bán. Nhà in Tương Lai ở đường Trần Hưng Đạo có bao nhiêu máy in cũng được sử dụng để in “Chuyện Tình Lan và Điệp 1, 2, 3” ròng rã suốt ngày đêm. Tổng cộng là gần 4 triệu năm trăm ngàn bản nhạc được in ra trong vòng hai năm. Mỗi bản nhạc là 5 đồng thì công ty Lê Minh Bằng đã thu về được gần mười lăm triệu đồng bạc VNCH sau khi trừ đi những phí tổn linh tinh. Tỉ giá hối xuất lúc đó là 70 đồng VNCH thì bằng một đô-la Mỹ. Như vậy tính sơ sơ thì cả ba nhạc sĩ này cũng kiếm được hơn 200,000 dollars Mỹ vào thời đó rồi. Nhạc sĩ Anh Bằng đã kể cho thi sĩ Nguyên Sa biết là “dạo đó tiền vào như nước”. Đúng là một huyền thoại khó quên. Sau khi bán các bản nhạc này thì họ lại còn bán được bản quyền cho nhà sản xuất dĩa nhạc Asia để thu thanh vào dĩa nhựa. Không phải chỉ có Chuyện Tình Lan Và Điệp, Đêm Nguyện Cầu là bán mạnh, mà tiếp theo còn có rất nhiều bài khác như Gõ Cửa, Căn Nhà Ngoại Ô, Nhật Ký Hai Đứa Mình, Phượng Hồng Phượng Tím, Linh Hồn Tượng Đá, Đêm Vũ Trường, Tình Đời, Sầu Tím Thiệp Hồng, Một Chuyến Xe Hoa, Hai Sắc Hoa Ti-Gôn, Tango Dĩ Vãng, Huế Xưa, Kiếp Cầm Ca, Xin Còn Gọi Tên Nhau …Có bài phải in ra hơn 100,000 ấn bản mới đủ để phát hành khắp miền Nam lúc đó.

Với sự thành công của nhóm Lê Minh Bằng như vậy thì không phải là họ độc chiếm thị trường âm nhạc theo kiểu “một mình một chợ” dù là họ đã ký tên với rất nhiều bút hiệu khác nhau. Họ cũng phải cạnh tranh với rất nhiều nhạc sĩ nổi danh khác chuyên môn sáng tác những bài hát theo thể điệu boléro, rumba như Lam Phương, Duy Khánh, Trần Thiện Thanh, Hoài Linh….và đặc biệt nhất là Trúc Phương. Đây là một nhạc sĩ trẻ vừa xuất hiện với một hào quang sáng chói và chỉ một thời gian ngắn đã lấn át các đàn anh nêu trên. Nhạc của Trúc Phương cũng chỉ là nhạc phổ thông quần chúng, nhưng lời ca thì rất đẹp, rất nên thơ vượt trội các nhạc sĩ đương thời. Nên không lâu sau đó các bài hát của Trúc Phương như Tàu Đêm Năm Cũ, Nửa Đêm Ngoài Phố, Thói Đời, Buồn Trong Kỷ Niệm, Ai Cho Tôi Tình Yêu …và nhứt là Trên Bốn Vùng Chiến Thuật và Hai Mươi Bốn Giờ Phép đã được đón nhận khắp nơi. Liền sau đó có ba nhạc sĩ cũng hợp tác thành một bộ ba y chang như nhóm Lê Minh Bằng là nhóm Trịnh Lâm Ngân, cũng có những cách thức làm việc từa tựa nhóm kia. Họ là nhạc sĩ Trần Trịnh, nhạc sĩ Nhật Ngân và một người bạn là Lâm Đệ, vốn là con trai của một trung tâm thu thanh (trong đó phần sáng tác chính là do nhạc sĩ Nhật Ngân đảm trách). Nhóm ba người Trịnh Lâm Ngân này cũng tung ra được gần ba chục bài hát rất nổi danh như Xuân Này Con Không Về, Qua Cơn Mê, Yêu Một Mình, Hờn Anh Giận Em, Tình Kỷ Nữ … Nhưng họ không thành công lắm trên phương diện thương mại và không tạo nên “huyền thoại” bằng nhóm Lê Minh Bằng.

Việc phân chia lợi nhuận và tác quyền của các thành viên trong nhóm:

Lợi tức của nhóm Lê Minh Bằng thu vào được hàng triệu đồng như vậy, thì việc phân chia làm sao? Nhạc sĩ Anh Bằng cho biết là mọi khoản tiền kiếm được đều được chia ra đồng đều làm ba phần cho ba nhạc sĩ, bất kể là nhiệm vụ của mỗi người ra sao. Công ty huyền thoại Lê Minh Bằng này đã hoạt động liên tục thành công như vậy đó trong suốt chín năm trời (1966-1975) và đã kiếm được hàng chục triệu đồng VNCH và họ cũng đã là những nhạc sĩ giàu nhứt thời đó. Nhưng ngoài việc hợp tác làm ăn chung này thì cả ba nhạc sĩ này cũng có làm ăn riêng rẽ, tùy theo hoàn cảnh và điều kiện của từng người.

Giàu nhất trong bộ ba này là nhạc sĩ Anh Bằng. Ngoài lãnh vực kinh doanh âm nhạc, gia đình ông còn có những cơ sở thương mại khác hái ra bộn tiền như hệ thống các quán cà phê có thương hiệu là Làng Văn ở đường Phan Kế Bính và Trần Quang Khải (Sài Gòn). Chủ nhân của lò bánh mì Michou Frères ở đường Trần Quang Khải cũng là Anh Bằng. Ông cũng là sở hữu chủ của một công ty xe đò chạy tuyến đường Sài Gòn–Đà Lạt. Tất cả những công việc giao dịch kinh doanh này ông đều giao cho các quản lý điều khiển để ông dành hết thì giờ vào nghệ thuật âm nhạc của ông. Có lẽ đã nhiều lần những người tài xế và lơ xe đò của chiếc xe này không bao giờ biết được thỉnh thoảng lại có một người đàn ông trung niên lặng lẽ ngồi ở băng sau chót của chiếc xe đò chạy từ Sài Gòn lên Đà Lạt. Ông ngồi im lìm thả hồn vào những cảnh vật ở hai bên đường mà trầm tư suy nghĩ như quên hết mọi chuyện xung quanh. Người đàn ông bí ẩn đó cũng chính là chủ nhân ông của chiếc xe đò này. Để rồi khi trở về nhà nhạc sĩ đã sáng tác ra “Đà Lạt Hoàng Hôn” do cảm xúc từ những chuyến đi một mình. Rất ít khi người ta thấy ông xuất hiện ở trên đài phát thanh hay đài truyền hình hoặc những nơi chốn có đông đảo mọi người. Trước năm 1975, tuy là nhạc sĩ của hơn 350 bài hát có số ấn bản hàng triệu bản nhạc in, bài nào cũng được thu thanh và phát thanh hàng trăm lần, nhưng trước sau ông chỉ đến Đài Phát Thanh Sài Gòn khoảng chừng ba lần để nghe và xem Thanh Thúy thâu Sầu Lẻ Bóng, Lệ Thu thâu Nước Mắt Một Linh Hồn và Thanh Vũ thâu Đêm Nguyện Cầu.

LMB 13

Cùng gia đình di tản sang Mỹ từ năm 1975 với số tuổi vừa đúng 50, nhạc sĩ Anh Bằng vẫn tiếp tục hoạt động trong lãnh vực âm nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc cassettes tên là Dạ Lan (1981-1990). Trung tâm này đã từng chiếm lĩnh thị trường nhiều năm với những tiếng hát như Ngọc Lan, Tuấn Vũ, Sơn Tuyền, Như Mai… và “Ngũ Long Công Chúa” gồm có Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Hải Lý, Kim Anh ..qua các băng nhạc Lê Minh Bằng 1, Lê Minh Bằng 2, Lê Minh Bằng 3… Ngoài ra ông còn trình diễn ở ban nhạc lưu động với những giọng ca như Ngọc Lan, Kiều Nga, Thy Vân, Hải Lý, Như Mai ….Rồi làm cố vấn cho Trung Tâm Asia Entertainment sau này (kể từ năm 1990). Trong suốt ba mươi mốt năm qua, nhạc sĩ Anh Bằng đã không ngừng sáng tác. Nếu trước năm 1975 số lượng các nhạc phẩm phổ thơ của ông chiếm chừng 10% trong tổng số các bài hát do ông sáng tác, thì sau này ra hải ngoại số bài hát phổ thơ hoặc lấy ý từ những bài thơ sẽ nhiều hơn như Trúc Đào, Chuyện Hoa Sim, Chuyện Giàn Thiên Lý, Về, Hiến Chương Tình Yêu, Anh Còn Nợ Em, Gửi Người Dưới Mộ, Chuyện Tình Hoa Trắng, Truyện Kiều…v..v.

Người thứ nhì trong nhóm Lê Minh Bằng cũng rất may mắn là nhạc sĩ Lê Dinh. Tuy ông là một công chức thâm niên của Đài Phát Thanh Sài Gòn (số 3 đường Phan Đình Phùng) liên tục từ năm 1958 cho đến năm 1975, nhưng ông không bị bắt đi học tập cải tạo nhiều năm. Lúc làm việc cho đài phát thanh, ông cũng có viết vài bài nhạc hùng tuyên truyền cho những chiến dịch tố cáo tội ác của cộng sản nhưng rất nhẹ nhàng. (Trong khi nhạc sĩ Minh Kỳ có viết vài bài hùng ca rất mạnh mẽ như Biệt Động Quân, Cảnh Sát Hành Khúc…). Bị kẹt lại ở Sài Gòn sau năm 1975, mãi cho đến ba năm sau ông mới cùng gia đình vượt biển thành công (tháng 8 năm 1978)và được một tàu hàng của Canada vớt mang vào Đài Loan tạm trú. Từ năm 1979 ông cùng gia đình sang định cư ở thành phố Montréal, Canada cho đến bây giờ. Ra hải ngoại ông không còn nhiều cảm hứng và môi trường thích hợp để sáng tác nữa mà chuyển sang lãnh vực làm đài phát thanh Việt ngữ và làm chủ nhiệm tờ nguyệt san Nghệ Thuật, trong đó ông viết rất nhiều bài vở. Những sáng tác sau này của Lê Dinh ở hải ngoại chỉ có vài bài như Thương Về Gò Công, Dòng Kỷ Niệm, Chữ Tình, Chỉ Là Phù Du, Bài Hát Của Người Điên, Nắng Bên Này Sông…

Nhạc sĩ Minh Kỳ đã chọn con đường binh nghiệp trong ngành cảnh sát từ những ngày còn trẻ. Ông có khả năng sáng tác nhạc rất nhanh và cũng rất hay. Ông thường viết ra một bản nhạc nhưng không viết lời ca liền lúc đó, mà hay nhờ người khác viết lời. Chẳng hạn như thi sĩ Hồ Đình Phương đã viết lời cho những bài Nha Trang, Thương Về Miền Trung …của ông. Nhạc sĩ Lê Dinh cũng nhắc lại một kỷ niệm khó quên với Minh Kỳ như sau: vào tháng 11 năm 1964, nhạc sĩ Lê Dinh đang ngồi trong nhà ở cư xá Chu Mạnh Trinh (Phú Nhuận) thì nhạc sĩ Minh Kỳ chạy xe lambretta đến đưa cho Lê Dinh một bài nhạc còn ghi trên giấy nháp và nói ông vừa viết xong bài này mà chưa đặt lời và tựa được. Nhờ Lê Dinh soạn lời thật gấp, nội trong ngày mai phải xong để đem đưa nhà in và tung ra thị trường trước Tết Ất Tỵ này. Biết tánh tình hơi nóng nảy và gấp rút của Minh Kỳ, nên nhạc sĩ Lê Dinh đã thức trắng đêm và hoàn thành ra bài hát “Cánh Thiệp Đầu Xuân” rất nổi tiếng sau này. Hai nhạc sĩ này cũng soạn chung vài bài khác như Người Em Xứ Thượng, Hạnh Phúc Đầu Xuân, Mưa Trên Phố Huế, Một Chuyến Xe Hoa …

Từ trái sang phải: Anh Bằng – Minh Kỳ và Lê Dinh

Từ trái sang phải:
Anh Bằng – Minh Kỳ và Lê Dinh

(Hình ba nhạc sĩ Anh Bằng, Minh Kỳ và Lê Dinh trước Trung Tâm phát hành nhạc Tinh Hoa, Sài Gòn, 1966. Ảnh tư liệu của gia đình nhạc sĩ Lê Dinh, Canada)

Huyền Thoại Lê Minh Bằng:

Hồi tưởng lại thời gian bốn chục năm về trước, khi thành lập nhóm Lê Minh Bằng, ba người nhạc sĩ này đều tin tưởng vào sự thành công, đoàn kết một lòng do những sự nhiệt tình, tài sức của tuổi trẻ. Nhưng công ty này chỉ tồn tại đúng chín năm rồi tan rã theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam. Sau cuộc đổi đời đó thì mỗi người mỗi ngã, nếu ai không tin dị đoan cũng phải tin, khi tai họa đã giáng trúng vào nhạc sĩ Minh Kỳ trong “bộ ba” (trio) này. Vì là một Đại Úy phục vụ trong ngành cảnh sát của VNCH, nên nhạc sĩ Minh Kỳ bị bắt vào trại tập trung cải tạo ở căn cứ Long Bình, gần thành phố Biên Hòa. Trong những ngày hỗn loạn của tháng Tư năm 1975, nhạc sĩ Minh Kỳ đã từng tâm sự với Lê Dinh rằng, bằng cách nào ông cũng phải ráng dẫn theo đứa con trai trưởng (sanh năm 1966) ra nước ngoài (để sau này còn có cháu nội mà nối dõi tông đường). Nhưng không hiểu vì lý do gì mà ông bị kẹt lại sau khi Sài Gòn thất thủ.

Về cái chết của ông ở trại cải tạo Long Khánh cho đến nay vẫn còn là huyền thoại, với những tin đồn sau này ở hải ngoại chưa được kiểm chứng. Theo một bài báo của nhạc sĩ Lê Dinh trên tờ Nghệ Thuật (ở Canada) thì cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ thật là “lãng nhách” với những lý do khá mơ hồ và không sao hiểu nổi. Nguyên do có lẽ do một sự xích mích, gây gỗ gì đó xảy ra giữa người những người tù cải tạo với các bộ đội cộng sản canh giữ tù nhân. Họ thường hay mua bán đổi chác đường, sữa với nhau một cách trái phép với nội quy của trại. Nhưng không hiểu thù oán làm sao mà tên cán bộ hay bộ đội này đã cho nổ lựu đạn làm thiệt mạng người nhạc sĩ tài hoa này (trong khi ông không có dính líu gì trong việc trả thù của họ) vào tháng 9 năm 1975, khi ông vừa đúng 45 tuổi đời. Sau này có vài người con lớn của nhạc sĩ Minh Kỳ đã vượt biên được và bảo lãnh cho vợ ông và các các em cùng đoàn tụ với nhau trên đất Mỹ. Hiện nay người con trai lớn của ông đang sinh sống ở San Jose và vẫn còn độc thân. Hy vọng trong chương trình đại nhạc hội sắp tới đây, chúng ta sẽ được nghe chính những người thân nhân của nhạc sĩ Minh Kỳ giải đáp về những “huyền thoại” chung quanh cái chết của người nhạc sĩ vắn số này.

Nếu không có cuộc đổi đời xảy ra vào tháng Tư năm 1975 thì cho đến nay chắc có lẽ tình bạn và sự hợp tác của nhóm Lê Minh Bằng vẫn còn bền chặt ở trong nước cho đến tận bây giờ. Có thể nói “Huyền thoại Lê Minh Bằng” là:

-Một sự kết hợp kỳ diệu của ba miền đất nước thân yêu,
-Một quy tụ của ba nghệ sĩ có tính tình khác nhau: lãng mạn, nghiêm trang, khoan hòa nhân ái.

Tất cả đã tụ hội lại để phát huy khả năng sáng tác, thành công trên phương diện thương mại và góp phần to lớn vào gia tài âm nhạc của nước nhà với những “tình khúc thời chinh chiến” vẫn còn được ưa chuộng khắp mọi nơi cho đến tận ngày hôm nay. Sau chương trình Asia 51: “Nhạc Vàng 30 Năm Sau Cuộc Chiến” thì Trung Tâm Asia lại mang đến cho khán giả khắp nơi những hình ảnh và âm thanh của “Huyền Thoại Lê Minh Bằng” ở thời điểm của hơn 40 năm về trước. Đó là những di sản quý giá ở thời vàng son của âm nhạc Việt Nam hiện đại mà chúng ta mang theo được khi sống lưu vong nơi xứ người. Chúng ta cũng hãnh diện là Trung Tâm Asia đã thực hiện, lưu giữ và giới thiệu lại cho những thế hệ sinh ra và trưởng thành sau cuộc chiến gia tài âm nhạc quý giá này. Riêng những bậc cha ông cũng có dịp ôn lại quãng đời hoa mộng xinh tươi của thời son trẻ ngày nào qua tác phẩm nghệ thuật Asia DVD 52.

Thực ra, bài viết này cũng chỉ vén được rất ít những tấm màn bí ẩn còn bao phủ lên “huyền thoại” Lê Minh Bằng từ suốt bốn chục năm nay. Hy vọng là trong chương trình đại nhạc hội sắp tới, chúng ta sẽ có dịp được biết nhiều hơn những điều mới lạ được chính những nhân chứng trình bày về Lê Minh Bằng. Mặt khác, khán giả khắp nơi sẽ có dịp xem được những hình ảnh quý giá và những đoạn phim chưa hề công bố từ trước tới nay của gia đình ba người nhạc sĩ lừng danh này.

DUY KHIÊM 
(31-7-2006)

nguồn: trung tâm Asia 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s